Có những chuyện hồi nhỏ bị nhắc hoài nghe phát quạu: ngồi ngay ngắn, đừng bới đồ ăn, đừng cắm đũa vô chén cơm, ăn xong nhớ cảm ơn. Lớn lên mới thấy, mâm cơm Việt không chỉ dùng để no bụng. Nó còn là một lớp học nhỏ, ngày nào cũng mở, không có bảng đen mà vẫn dạy đủ chuyện về vệ sinh, nhường nhịn, biết ý và tôn trọng người khác.

Danh sách An nhận được có đúng 50 điều. Có điều tới giờ vẫn rất đáng giữ. Có điều thuộc về nếp nhà xưa. Có điều pha cả quan niệm tướng số, định kiến giới hay phân tầng xã hội, bê nguyên qua đời sống bây giờ thì hơi khùi như đầu bờ 😂. Cho nên bài này không biến 50 câu thành 50 điều răn. An giữ đủ ý, nhưng chia lại cho dễ đọc và chỉ ra cái lõi nào còn hữu ích.

Một câu trong bản gốc bị tối nghĩa

Điều số 1 được ghi là: “Không và quá 3 lần khi đưa bát cơm lên miệng.” Câu này có tý tối nghĩa và khó hiểu, với một vài bạn, nên An có giải thích theo ý các nhân nên bạn hiểu sao bạn hiểu cho nó tự do theo ý mình nha.

1. Đũa, chén và món chung: nhìn nhỏ mà lộ cách cư xử

  • 1. Bản gốc ghi: “Không và quá 3 lần khi đưa bát cơm lên miệng.” Vì câu bị tối nghĩa nên An diễn giải thêm thế này ( tức là và vào miệng liên tục không bỏ chén xuống thì nó làm ra 1 hình tượng "cảm như thiếu ăn, đói khát", nên nhìn hình ảnh đó không đẹp và thiếu lịch sự, nên cứ ăn từ từ, bỏ lên bỏ xuống vậy cho nó đẹp hình thể hahaha với lại ăn uống cũng nhẹ nhàng lịch sự)

  • 2. Không gắp thức ăn từ đĩa chung rồi đưa thẳng vô miệng. Đặt xuống chén riêng rồi mới ăn.

  • 3. Không dùng đũa hay muỗng cá nhân quậy trong tô thức ăn chung.

  • 4. Không xới tung đĩa thức ăn chỉ để kiếm miếng ngon hơn. Miếng ngon không có lỗi, nhưng đào cả đĩa để săn nó thì hơi lộ bài 😅.

  • 5. Không cắm đũa dựng đứng trong chén cơm.

  • 6. Không nhúng cả đầu đũa vô chén nước chấm.

  • 7. Theo phép cũ, muốn gắp thức ăn cho người khác thì trở đầu đũa. Ngày nay có đũa hoặc muỗng dùng chung thì dùng đồ chung vẫn gọn và vệ sinh hơn.

  • 8. Không cắn đũa, cắn muỗng, cắn miệng chén và không liếm đầu đũa.

  • 9. Không vừa cầm chén vừa cầm đũa bằng một tay theo kiểu chới với, cũng không ngậm đũa để rảnh tay múc canh hay làm việc khác. Đôi đũa chưa dùng thì đặt xuống mâm, đĩa lót hoặc đồ gác đũa.

Đồ ăn là của chung thì cách ăn cũng phải chừa chỗ cho người khác.

Cái lõi của chín điều đầu

An thích gom chín điều này về một nguyên tắc thôi: đừng làm món chung thành “khu vực cá nhân” của mình. Hiểu được cái đó thì tự nhiên hết quậy đũa, hết bới món, hết nhúng đũa tùm lum. Đỡ phải học thuộc nguyên bộ nội quy dài như sớ.

2. Tư thế và tiếng động: ăn cơm chứ không đánh vật với cái bàn

  • 10. Không rung đùi khi ngồi ăn. Bản gốc còn gắn rung đùi với “tướng bần tiện” ở nam và “dâm dục” ở nữ. Phần phán tướng và định kiến giới này nên xem là quan niệm cũ, không phải phép lịch sự hiện đại.

  • 11. Không ngồi sát rạt vô mâm hay bàn, nhưng cũng đừng ngồi xa tới mức mỗi lần gắp phải nhoài nguyên người tới trước.

  • 12. Ngồi ghế thì giữ lưng ngay ngắn. Ngồi chiếu thì có thể chuyển động lưng và tay nhưng theo phép cũ không nhấc mông.

  • 13. Không giấu tay dưới bàn suốt bữa, cũng không chống tay chiếm mặt bàn. Khi chưa cầm chén, bản gốc khuyên đặt phần cổ tay nhẹ trên bàn.

  • 14. Không chống cằm trên bàn ăn.

  • 15. Tuyệt đối tránh nói khi miệng còn đầy cơm.

  • 16. Không chu miệng thổi liên tục vô thức ăn nóng. Ăn chậm và chọn phần nguội hơn ở sát thành chén hay đĩa.

  • 17. Theo cách bày bàn trong danh sách gốc, muỗng múc canh nên đặt úp trong tô, không để ngửa.

  • 18. Khi chấm nước chấm chung, chỉ nhúng phần thức ăn. Không nhúng đầu đũa, và miếng đã cắn dở thì không chấm trở lại.

  • 19. Khi nhai, hạn chế chép miệng.

  • 20. Không tạo tiếng động lớn khi ăn, kiểu húp sùm sụp.

  • 21. Không nói, uống rượu hay húp canh khi miệng còn cơm.

  • 22. Không gõ đũa, chén, muỗng vào nhau để tạo tiếng động.

  • 23. Với canh, chè, xúp, cháo và món nước: chén nhỏ có thể cầm bằng hai tay để dùng, nhưng không cầm kèm đũa hay muỗng. Tô lớn hoặc đĩa sâu thì để trên bàn, dùng muỗng múc; gần cạn có thể nghiêng nhẹ tô ra phía ngoài để múc, chứ không bưng nguyên tô lớn lên húp.

Đọc nguyên cụm này mới thấy ông bà ngày xưa mê chữ “gọn” dữ lắm. Ngồi gọn, ăn gọn, âm thanh gọn, tay chân gọn. Không bắt người kế bên phải né cùi chỏ, né nước canh, né tiếng chép miệng. Cái phần đó tới giờ vẫn xài ngon lành.

3. Người lớn, trẻ nhỏ và món ngon: phép ăn thật ra là phép nhường

  • 24. Theo nếp truyền thống, không ăn trước người lớn tuổi. Chờ bề trên bưng chén lên rồi mới ăn. Khi làm khách, không gắp trước chủ nhà hoặc người chủ bữa cơm, trừ khi được mời.

  • 25. Dù trong nhà hay làm khách, không chê món ăn chỉ vì nó không hợp khẩu vị. Bản gốc nhấn rất mạnh chuyện này vì đằng sau một món ăn là công sức của nhiều người, và “không ngon với người này” chưa chắc “không ngon với người khác”.

  • 26. Không gắp liên tục một món dù đó là món khoái khẩu. Một người xử đẹp nửa đĩa thịt kho rồi ngồi giải thích về lễ nghĩa nghe cũng hơi... mâu thuẫn nội bộ 😂.

  • 27. Nếm thức ăn trước rồi mới thêm muối, tiêu, ớt, chanh hay gia vị khác. Vừa ngồi xuống đã rắc nguyên dàn gia vị thì oan cho người nấu quá.

  • 28. Bản gốc yêu cầu ăn hết thức ăn trong chén, không để sót hạt cơm. Hiểu theo đời sống bây giờ, cái đáng giữ là lấy lượng vừa sức và hạn chế bỏ thừa.

  • 29. Khi dọn mâm nên có chén hoặc đĩa nhỏ đựng xương, đầu tôm, hạt thóc hay sạn còn sót.

  • 30. Bản gốc cho rằng trẻ quá nhỏ nên ăn mâm riêng và có người trông, khoảng 6 tuổi mới ngồi chung mâm khi đã biết quy tắc cơ bản. Mốc 6 tuổi không nên coi là chuẩn cứng cho mọi đứa trẻ, nhưng ý “dạy trước rồi mới giao không gian chung” vẫn hợp lý.

  • 31. Trẻ nhỏ muốn lấy món ngoài tầm với thì nhờ người lớn, không nhoài người qua mâm. Bản gốc cũng đề nghị chuẩn bị riêng phần cá thịt đã gỡ xương, cắt nhỏ cho trẻ; với người lớn tuổi thì có thể làm mềm, gỡ xương và cắt nhỏ tương tự.

Điều An thấy đáng dạy nhất cho trẻ

Không phải “cầm đũa đúng dáng” mà là: món ngon cũng có phần của người khác. Từ chuyện không bới miếng ngon, không gắp liên tục một món, tới chuyện để phần người về trễ, toàn bộ đều đang dạy một chữ: nhường.

4. Vệ sinh và sự biết ý: đừng để cả bàn phải né mình

  • 32. Không để vật dụng cá nhân lên bàn ăn nếu không cần thiết. Bản gốc chừa ngoại lệ cho quạt giấy xếp; còn ngày nay điện thoại vừa gây mất tập trung vừa không phải món sạch sẽ gì để nằm kế chén cơm.

  • 33. Người về muộn nên được để phần trong đĩa riêng. Không “để phần” bằng cách cả nhà ăn gần hết rồi chừa lại đồ ăn dở trong đĩa chung.

  • 34. Ăn từ tốn, không hối hả và không vừa đi vừa nhai.

  • 35. Hạn chế làm thức ăn dính ra mép, ra tay hoặc vương vãi lên bàn. Bản gốc diễn tả khá dữ: đứng dậy mà khăn trải bàn vẫn sạch thì mới đẹp.

  • 36. Nếu gặp xương hoặc vật lạ trong thức ăn, từ từ lấy ra kín đáo, không nhè cả miếng thức ăn ra giữa bàn.

  • 37. Bản gốc cho rằng người từ 70 tuổi trở lên và trẻ nhỏ có thể ợ trong lúc ăn mà không bị coi là bất lịch sự. Mốc tuổi này rõ ràng mang tính quy ước cũ. Bây giờ lỡ xảy ra thì xử lý nhẹ nhàng, xin lỗi một tiếng là đủ.

  • 38. Nếu bị cay, cần hắt hơi hay xì mũi thì xin phép ra ngoài hoặc quay khỏi bàn để xử lý.

  • 39. Nhà có khách nên cẩn trọng với món quá cay hoặc gia vị đặc biệt. Có thể để phần cay bên ngoài cho ai ăn được thì tự thêm.

  • 40. Tránh va tay với người ngồi cùng mâm. Người thuận tay trái có thể nói trước để chọn chỗ ngồi thuận tiện.

  • 41. Chú ý tay áo khi với gắp thức ăn, nhất là áo rộng. Tay áo đi chấm nước mắm trước chủ nhân thì coi như nó tự có bữa riêng.

  • 42. Nếu thức ăn quá lớn, nên xin cắt nhỏ để mọi người dùng thuận tiện.

  • 43. Đang ăn mà có việc riêng cần rời mâm thì xin phép hoặc báo một tiếng trước khi đi.

Nhìn kỹ thì cả nhóm này không có gì cao siêu. Nó chỉ yêu cầu một người biết mình đang chiếm một phần không gian chung. Đừng để người khác phải né tay áo, né hắt hơi, né đồ cá nhân hay dọn hậu quả sau cách ăn của mình. Lịch sự thường bắt đầu ở mấy chỗ nhỏ xíu vậy.

5. Làm khách, mời cơm và lời cảm ơn: nhập gia thì coi nếp nhà

  • 44. Sau bữa ăn nên nói cảm ơn, kể cả chỉ có hai vợ chồng nấu cho nhau. Có món ngon thì khen một câu. Cơm không tự mọc lên bàn, chén cũng không tự đi rửa.

  • 45. Phong tục mời cơm tùy gia đình. Có nhà người lớn nói “các con ăn đi”, trẻ thưa “con xin phép”. Có nhà trẻ phải mời lần lượt ông bà, cha mẹ, cô chú, anh chị. Đi tới đâu thì quan sát nếp nhà đó, không lấy luật nhà mình ép lên nhà người ta.

  • 46. Nếu cần tô lại son sau khi ăn thì theo phép xã giao cũ nên xin phép vô phòng vệ sinh, không tô ngay trên bàn trước mặt người khác.

  • 47. Khi làm khách, ngồi theo sự sắp chỗ của chủ nhà. Không tự ý ngồi vô bàn khi chủ nhà chưa mời.

  • 48. Bản gốc ghi một tập tục xưa: có lúc người giúp việc ăn cùng mâm với chủ nhà, nhưng khi gắp thì chủ nhà để tay ngang, người giúp việc để tay úp để phân biệt địa vị. Đây nên được đọc như một mẩu tư liệu về xã hội cũ, không phải phép tắc đáng phục hồi.

  • 49. Không được phép quá chén.

  • 50. Nếu ăn kiêng hoặc có dị ứng, nên nói thật trước khi nhận lời làm khách để chủ nhà khỏi bị động.

Đi tới nhà ai thì quan sát nếp nhà đó trước. Đừng mang nguyên luật nhà mình đi áp cho nhà người khác.

Một nguyên tắc đủ xài từ mâm cơm tới đời sống

Không cần học thuộc 50 điều, nhớ 5 nguyên tắc là đủ

Bắt một đứa nhỏ học thuộc năm chục câu trước bữa cơm thì nghe thôi đã thấy chán như con gián. Nếu rút cả danh sách xuống thành năm nguyên tắc, An sẽ giữ năm chuyện này:

  1. Giữ vệ sinh khi dùng món chung.

  2. Đừng giành phần ngon về mình.

  3. Ăn gọn và hạn chế làm phiền người kế bên.

  4. Tôn trọng người nấu, người mời và người cùng ăn.

  5. Đi tới nhà ai thì quan sát nếp nhà đó trước.

Năm điều này tự sinh ra khá nhiều quy tắc phía trên. Hiểu cái lõi thì không cần ai đứng kế bên nhắc từng động tác.

Giữ truyền thống không có nghĩa giữ luôn mọi định kiến

Điều An thấy thú vị nhất ở danh sách này là nó trộn nhiều lớp văn hóa vô cùng một mâm cơm. Có vệ sinh, có chăm sóc người già và trẻ nhỏ, có lòng biết ơn, có phép làm khách. Nhưng cũng có phán tướng, định kiến giới, tôn ti và cách phân biệt địa vị của xã hội cũ.

Cách An đọc danh sách này

Điều nào làm người ngồi chung mâm dễ chịu hơn thì giữ. Điều nào chỉ có tác dụng phán xét giới tính, số phận hay địa vị của một người thì để nó nằm ở phần “hiểu người xưa từng nghĩ gì”. Giữ văn hóa không đồng nghĩa đóng băng tất cả những gì đã từng tồn tại.

Rốt cuộc, phép tắc trên mâm cơm không nằm ở chuyện bạn cầm đôi đũa đúng bao nhiêu độ hay thuộc được bao nhiêu câu. Nó nằm ở chuyện ăn sao để người ngồi chung mâm vẫn muốn ngồi ăn với bạn lần sau.

Vậy là đủ lịch sự rồi.