“Thưa cô, con chưa hiểu bài.” “Thưa cô, em chưa hiểu bài.” Chỉ đổi đúng một chữ, nhưng cảm giác quan hệ đã khác. “Con” kéo lớp học về gần mô hình gia đình. “Em” vẫn giữ thứ bậc tuổi tác, nhưng nghe giống một quan hệ nhà trường hơn. Cái đáng bàn không phải chữ nào “lễ phép hơn”, mà là mỗi cách gọi đang ngầm nói gì về vị trí của thầy cô và người học.
An từng nghĩ chuyện này khá đơn giản: miền Nam trước 1975 thiên về “em”, còn giáo dục hiện nay mới chuộng “con”. Mò tài liệu kỹ hơn thì hóa ra lịch sử không chịu đứng yên cho An kể một câu gọn ghẽ vậy 😂. Có tư liệu hồi ức cho thấy ngay trong giáo dục miền Nam trước 1975, “con” vẫn được dùng, thậm chí có giáo viên còn sửa học sinh từ “em” thành “con”. Vì vậy, nếu biến câu chuyện thành “VNCH dùng em nên khai phóng, hiện nay dùng con nên phục tùng” thì nghe rất đã tai, nhưng bằng chứng không cho phép nói vậy.
Điểm xuất phát của bài này
Bài này tách ba chuyện ra cho rõ: lịch sử thật sự ghi nhận gì về giáo dục miền Nam trước 1975; ngôn ngữ học nói gì về “con”, “em”, “thầy”, “cô”; và tâm lý học giáo dục có thể kết luận tới đâu về kỷ luật, phản biện, sáng tạo. Chỗ nào chỉ là suy luận, An ghi rõ là suy luận.
Một chữ xưng hô không chỉ để gọi nhau
Trong ngôn ngữ học xã hội, terms of address không đơn giản là bộ nhãn để khỏi phải gọi trống không. Nó là cách người nói định vị quan hệ: ai lớn hơn, ai nhỏ hơn, ai thân hơn, ai có quyền gì, khoảng cách giữa hai người ra sao.
Tiếng Việt đặc biệt ở chỗ rất nhiều kinship terms như anh, chị, em, cô, chú, bác, con được đem ra khỏi gia đình và dùng như đại từ xưng hô. Jack Sidnell và Merav Shohet, trong nghiên cứu đăng trên Journal of the Royal Anthropological Institute năm 2013, chỉ ra rằng hệ thống xưng hô tiếng Việt liên tục đánh dấu tuổi tương đối, thế hệ và qua đó là địa vị. Nói cách khác, người Việt vừa mở miệng gọi nhau là đã phải giải một bài toán xã hội nho nhỏ rồi. Tiếng Anh có “you” xài khá khỏe, tiếng Việt thì không cho con người sống dễ dữ vậy.
Khi học sinh gọi người dạy là thầy/cô và tự xưng “con”, quan hệ sư phạm được phủ thêm một lớp fictive kinship. Thầy cô không phải cha mẹ theo huyết thống, nhưng ngôn ngữ kéo hai bên về một khung gia đình. Khung này có thể tạo sự ấm áp, trách nhiệm và cảm giác được chăm sóc. Đồng thời, nó cũng kéo theo bất đối xứng thế hệ rất mạnh: một bên là người lớn dạy dỗ, một bên là “con” được uốn nắn.
Cách xưng hô | Quan hệ được gợi ra | Điểm mạnh có thể có | Rủi ro có thể có |
|---|---|---|---|
thầy/cô - con | sư phạm được gia đình hóa | gần gũi, chăm sóc, nghĩa tình | quyền lực dễ mang màu cha mẹ - con cái, học sinh lớn tuổi có thể bị trẻ con hóa |
thầy/cô - em | thứ bậc sư phạm và tuổi tác | vẫn lễ phép nhưng bớt tính cha mẹ | vẫn là quan hệ trên - dưới, không tự động tạo bình đẳng |
thầy/cô - trò | vai trò dạy - học truyền thống | rõ vai, ít nhập vào gia đình hơn “con” | có thể nghe xa hoặc cổ tùy môi trường |
tôi - anh/chị/bạn | quan hệ người lớn mang tính nghề nghiệp | nhấn mạnh trách nhiệm và tiếng nói của người học | ở phổ thông có thể bị cảm nhận là lạnh hoặc không hợp tập quán |
Bảng này mô tả tín hiệu xã hội có thể được gợi ra, không phải công thức nhân quả. Một cô giáo xưng “cô - con” vẫn có thể cực kỳ tôn trọng ý kiến học sinh. Một thầy giáo xưng “thầy - em” vẫn có thể không cho ai cãi nửa chữ.
Đừng gán cho chữ “con” một quyền lực thần bí
Ở đoạn trao đổi trước, có một nhận định nghe rất hấp dẫn: xưng “con” làm học sinh phục tùng hơn, giảm phản biện, thậm chí ảnh hưởng “IQ ứng dụng” hay hoạt động vỏ não trước trán. An kiểm lại thì phải bỏ cách nói đó. Hiện không có bằng chứng tốt cho phép kết luận chỉ riêng đại từ “con” gây giảm IQ, giảm sáng tạo hay làm một vùng não nào đó hoạt động ít đi.
Khoa học nói được gì, và chưa nói được gì?
Có cơ sở ngôn ngữ học để nói “con”, “em”, “thầy”, “cô” định vị tuổi, thế hệ và vai trò xã hội.
Có cơ sở tâm lý học giáo dục để nói cách giáo viên hỗ trợ tự chủ, đặt quy tắc, lắng nghe và phản hồi có liên hệ với động lực và mức độ tham gia học tập.
Chưa có cơ sở để nói riêng việc xưng “con” làm giảm IQ, giảm sáng tạo hay trực tiếp thay đổi não theo một hướng xác định.
“Applied IQ” cũng không phải một chỉ số tâm lý học chuẩn dùng để đo câu chuyện này. Nếu nghiên cứu nghiêm túc, nên đo problem-solving, transfer of learning, creativity, engagement, executive function hoặc student agency.
Điểm đáng chú ý hơn nằm ở cách lớp học vận hành. Một tổng quan hệ thống và meta-analysis năm 2025 trên 94 nghiên cứu cho thấy autonomy support và structure không phải hai phe đánh nhau. Chúng có thể củng cố lẫn nhau. Học sinh vừa cần được tôn trọng góc nhìn, có quyền lựa chọn hợp lý và hiểu lý do của yêu cầu, vừa cần mục tiêu, quy tắc, hướng dẫn và phản hồi rõ ràng.
Thành ra cái đối lập “muốn kỷ luật thì phải bắt phục tùng, muốn sáng tạo thì phải thả lỏng” là một cái bẫy khá cùi bắp. Kỷ luật tốt không nhất thiết là làm học sinh nhỏ lại. Tự chủ tốt cũng không phải để lớp học thành cái chợ. Một lớp học có thể rất nghiêm mà vẫn cho học sinh hỏi “tại sao?”, cãi bằng lý lẽ và nhận trách nhiệm cho lựa chọn của mình.

Miền Nam trước 1975: điều đáng nói không nằm ở một đại từ
Nếu muốn so với giáo dục miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1975, phần có tài liệu khá chắc không phải là “mọi học sinh đều xưng em”. Phần chắc hơn nằm ở triết lý giáo dục chính thức và cách chương trình được tổ chức.
Nhân bản, dân tộc, khai phóng
Một nghiên cứu năm 2021 trên Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Khoa học Xã hội và Nhân văn của Đại học Quốc gia TP.HCM dẫn lại rằng Đại hội Giáo dục Quốc gia lần I năm 1958 chính thức nêu ba nguyên tắc “nhân bản, dân tộc, khai phóng”. Tài liệu của Bộ Quốc gia Giáo dục năm 1959 và chương trình trung học năm 1960 tiếp tục ghi các nguyên tắc này.
Nhân bản: lấy con người và đời sống con người làm trọng tâm, nhắm tới sự phát triển con người chứ không chỉ sản xuất một người biết thuộc bài.
Dân tộc: tôn trọng và phát huy truyền thống, ngôn ngữ và văn hóa dân tộc.
Khai phóng: nhấn mạnh tinh thần khoa học, dân chủ, xã hội và khả năng tiếp nhận tinh hoa văn hóa thế giới.
Tới Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967, giáo dục tiếp tục được đặt ở cấp nguyên tắc quốc gia. Điều 10 ghi nhận tự do giáo dục, giáo dục cơ bản cưỡng bách và miễn phí, đại học được tự trị, cùng việc khuyến khích nghiên cứu và sáng tác. Điều 11 mô tả văn hóa giáo dục dựa trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản. Đây là văn bản pháp lý, nên giá trị của nó là cho biết nhà nước lúc đó tuyên bố muốn xây hệ thống theo hướng nào. Nó không tự động chứng minh mọi lớp học ngoài đời đều đạt đúng lý tưởng đó.
Một chương trình, nhiều bộ sách
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ly Kha về sách Việt ngữ tiểu học miền Nam trước 1975 cho thấy có nhiều bộ sách do nhiều nhóm tác giả và nhà xuất bản khác nhau biên soạn, cùng tuân theo một chương trình chung. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tính tích hợp, mô hình giao tiếp và ba nguyên tắc nhân bản, dân tộc, khai phóng. Đây là một chi tiết đáng suy nghĩ: quyền lựa chọn tài liệu và sự đa dạng học liệu có thể tồn tại song song với một khung chương trình chung.
Nhưng cũng đừng biến quá khứ thành poster treo tường. Chính các công trình nghiên cứu về giai đoạn này vẫn ghi nhận hệ thống có hạn chế và chưa hoàn thiện. Nó chỉ tồn tại khoảng hai thập niên, lại vận hành trong chiến tranh. Khen cái đáng học không có nghĩa là gắn nhãn “thời vàng son” rồi coi mọi thứ đều đẹp.

Vậy học sinh miền Nam trước 1975 xưng “con” hay “em”?
Câu trả lời thành thật nhất là: An chưa tìm được một khảo sát định lượng hoặc quy định toàn hệ thống đủ mạnh để nói một cặp xưng hô duy nhất thống trị mọi trường, mọi cấp học, mọi vùng miền.
Nguồn hồi ức thì cho hình ảnh khá pha trộn. Một bài của Nguyễn Văn Lục đăng trên Việt Báo kể rằng có một số thầy cô miền Nam không chấp nhận học sinh xưng “em”; ông còn kể trường hợp một hiệu trưởng nữ trung học sửa học sinh phải “thưa cô, con”. Bài cũng cho rằng ngay ở đại học có sinh viên xưng “con” với thầy. Đây là hồi ức và nhận định cá nhân, không phải thống kê đại diện. Nhưng nó đủ để bác một khẳng định quá mạnh rằng “trước 1975 miền Nam chỉ xưng em”.
Ở chiều ngược lại, việc “em” tồn tại trong quan hệ thầy trò cũng hoàn toàn phù hợp với hệ thống xưng hô tiếng Việt và hiện diện trong nhiều ký ức, văn bản, lối nói. Vì vậy, lịch sử hợp lý hơn khi được hiểu như một phổ thực hành: thầy/cô - con, thầy/cô - em, thầy/cô - trò có thể cùng tồn tại tùy trường, tuổi, vùng, quan hệ cá nhân và quan niệm của từng giáo viên.
Ở 1 chiều khác, là ở chiều gia đình An, thì ông bà già nhà An nói là xưng em, và hồi nhỏ đi học Tía ổng cũng kêu có gì thì phải giơ tay, cô ơi em muốn đi tiểu :))) tức là hồi còn nhỏ lắm chắc lớp mẫu giáo á, vì lúc đó tía má 2 ổng bả dặn rất ký mấy vấn đề tế nhị, mắc tiểu, mắc ỉa ... mà kêu là EM, và gọi Cô, lúc đó An còn nghĩ là không lẽ do Tía ổng Già hơn bà Cô nên ổng kêu Cô ở ngôi thứ nhất, nhưng không, suy đi nghĩ lại thì là do chắc chắc là Tía Má 2 ổng bả nhất quán một quan điểm là xưng em, gọi cô. Sau đó An lớn lên và đi học cấp 2 cấp 3, nghe mấy đứa lẽo đẽo ""Cô - Con" nghe mắc địt thật sự, con con cái gì, ý là lần đầu tiên An nghe ở cấp 2 á, kiểu sao sao á, sao lại là con nghe không quen, vì đó đi học cấp 1 mấy đứa xung quanh cũng xưng em, nói chung trong ngôi trường đó đa phần An nghe là xưng em... Mà quanh đi một thời gian thì nhà Ngoại của An có bà mợ cũng dạy con của bả là xưng Con với Cô giáo trong trường... Lúc đó và về sau An cũng không còn bận tâm nữa....
Rồi “Bài Ca Học Trò” tự nhiên đứng lên phá án 😂
Đang mò coi miền Nam trước 1975 học trò xưng “em” hay “con”, An gặp đúng “Bài Ca Học Trò” của nhạc sĩ Phan Ni Tấn. Khúc này mắc cười theo kiểu rất có ích: một tác phẩm gắn với đời sống học sinh miền Nam trước 1975, vốn đi từ bài thơ “Kính Thưa Thầy”, mà nhân vật học trò trong đó lại xưng “con” với thầy rất tự nhiên.
Nghe tới đây An hơi khựng lại: ủa rồi nãy giờ tính dựng cái hàng rào “ngày xưa xưng em, bây giờ mới xưng con” để làm gì vậy trời 😂. Chính ví dụ này cho thấy lịch sử xưng hô không đẹp đẽ theo kiểu chia hai cột cho lẹ. “Con” rõ ràng đã hiện diện trong ngôn ngữ thầy trò miền Nam trước 1975. Nó không phải món gì tự nhiên sau này mới mọc ra.
Nhưng cái hay hơn nằm ở chỗ khác. Bài hát dùng “con” mà nhân vật học trò đâu có hiện lên như một đứa chỉ biết cúi đầu nghe lời. Trái lại, nó là tiếng nói của một học sinh đang đem chiến tranh, mất mát và những nghịch lý ngoài đời đối diện với bài học trong lớp. Thành ra “con” ở đây vừa giữ lễ với thầy, vừa không triệt tiêu tiếng nói riêng của người học. Một ví dụ khá đẹp cho luận điểm của cả bài: **đại từ có thể báo hiệu thứ bậc, nhưng nó không tự quyết định người học có được phản biện hay không.**
Cái mắc cười ở đây là lịch sử không chịu nghe lời mình
Nếu chỉ nhìn chữ “con” rồi kết luận ngay “đó là giáo dục phục tùng”, thì chính “Bài Ca Học Trò” làm lập luận đó lủng một lỗ khá bự. Người học có thể xưng “con” mà vẫn có tiếng nói, vẫn đặt câu hỏi với thực tại, vẫn không nuốt trọn mọi điều được dạy. Cái quyết định nằm ở văn hóa giáo dục quanh cách xưng hô, không nằm trong một đại từ.
Đây là chỗ cần phân biệt nguồn
Triết lý “nhân bản, dân tộc, khai phóng”, cấu trúc sách giáo khoa và các nguyên tắc trong Hiến pháp có nguồn học thuật hoặc văn bản lịch sử tương đối chắc. Còn tần suất học sinh xưng “con” hay “em” trước 1975 hiện An chỉ tìm được hồi ức, chưa có dữ liệu định lượng đủ tốt. Hai loại bằng chứng này không được trộn chung rồi nói chắc như đinh đóng cột.
Giáo dục Việt Nam hiện nay trên giấy tờ nói gì?
Nếu đọc luật hiện hành rồi bảo giáo dục Việt Nam chính thức muốn đào tạo học sinh chỉ biết vâng lời thì cũng không đúng. Văn bản hợp nhất Luật Giáo dục số 72/VBHN-VPQH ban hành ngày 25/3/2026 quy định phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và tư duy sáng tạo của người học; giáo dục phổ thông hướng tới phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo.
Quy tắc ứng xử trong cơ sở giáo dục theo Thông tư 06/2019/TT-BGDĐT cũng yêu cầu giáo viên dùng ngôn ngữ chuẩn mực, dễ hiểu, tôn trọng sự khác biệt, đối xử công bằng, tư vấn, lắng nghe, động viên và không xúc phạm hoặc trù dập người học. Quan trọng cho câu chuyện này: văn bản đặt ra nguyên tắc ứng xử, chứ không ấn định một cặp đại từ toàn quốc kiểu “giáo viên bắt buộc gọi con” hay “học sinh bắt buộc xưng em”.
Vậy vấn đề thú vị không phải “luật bắt xưng con”. Không có cái luật đó. Vấn đề nằm ở khoảng cách giữa triết lý chính thức và văn hóa lớp học thật. Một hệ thống có thể viết rất đẹp về chủ động, sáng tạo và tôn trọng khác biệt, nhưng nếu trong lớp học câu “thầy nói thì nghe đi, cãi gì” vẫn thắng mọi cuộc tranh luận, thì chữ trong luật chưa biến thành trải nghiệm giáo dục.
“Con” có gì hay, và có gì cần dè chừng?
An không nghĩ nên xử “con” như một từ xấu cần cấm. Trong mầm non hoặc những quan hệ thầy trò rất gần gũi, “con” có thể mang cảm giác an toàn và chăm sóc rất thật. Một đứa trẻ sáu tuổi mới rời vòng tay gia đình đi học, cô gọi “con” có khi là cây cầu tâm lý rất tự nhiên.
Nhưng cùng một chữ đó khi kéo dài tới tuổi 16, 18, 22 lại phát sinh câu hỏi khác. Nếu người học đang bước vào giai đoạn cần xây bản sắc, tự quyết và trách nhiệm cá nhân, cách xưng hô quá gia đình hóa có thể góp phần vào infantilization, tức giữ họ trong vị thế “đứa nhỏ được dạy bảo” lâu hơn mức cần thiết. An nhấn mạnh chữ “có thể”, vì đây là suy luận xã hội-ngôn ngữ, không phải một hiệu ứng nhân quả đã được thực nghiệm trực tiếp với đại từ “con”.
Cái nguy hiểm nhất không phải bản thân từ “con”, mà là khi nó đi kèm một gói quyền lực: “đã là con thì không được cãi”, “cô thương con nên cô quyết giùm”, “thầy lớn hơn nên thầy đúng”. Khi đó, tình thương bị lén đổi thành quyền sở hữu ý kiến. Chỗ này mới đáng ngại.
“Em” có thật sự khai phóng hơn không?
“Em” giảm một lớp gia đình hóa, nhưng đừng thần thánh hóa nó. “Em” vẫn là từ quan hệ chỉ người nhỏ hơn về tuổi hoặc vai. Nó vẫn mã hóa thứ bậc. Một giáo viên gọi học sinh “em” có thể tạo cảm giác nghề nghiệp hơn, nhưng nếu cách dạy vẫn là độc thoại, chấm điểm như trừng phạt và coi câu hỏi trái ý là hỗn, thì đổi “con” thành “em” cũng chỉ là sơn lại cái cửa.
Điều đáng quan tâm hơn là student agency: học sinh có được hỏi tại sao không, có được nói “em không đồng ý” bằng lý lẽ không, có được lựa chọn trong phạm vi hợp lý không, có phải chịu trách nhiệm cho lựa chọn không, có được giáo viên giải thích tiêu chí đánh giá không. Đó mới là phần ăn thẳng vào quá trình học.
Nếu chia theo cấp học, An sẽ chọn cách nào?
Mầm non
“Cô/thầy - con” hoàn toàn có thể hợp lý. Ở tuổi này, sự gắn bó và cảm giác an toàn rất quan trọng. Nhưng dù gọi là “con”, giáo viên vẫn nên cho trẻ lựa chọn trong những việc vừa sức, lắng nghe cảm xúc và không dùng mô hình cha mẹ để hợp thức hóa ép buộc.
Tiểu học
“Cô/thầy - em” có thể là mặc định trung tính hơn, còn “con” vẫn có thể xuất hiện tự nhiên trong ngữ cảnh chăm sóc hoặc khi cả lớp và phụ huynh thấy phù hợp. An không thấy lý do khoa học để cưỡng ép một từ duy nhất.
Trung học cơ sở và trung học phổ thông
An nghiêng rõ về thầy/cô - em. Không phải vì “em” tự động làm học sinh thông minh hơn, mà vì tuổi thiếu niên là lúc người học cần được công nhận là một chủ thể đang lớn, có quan điểm và trách nhiệm riêng. Giữ phép lịch sự nhưng bớt mô hình cha mẹ - con cái là hợp lý.
Đại học và giáo dục người lớn
Ở đây, việc bắt một người 20, 30, 40 tuổi phải tự đặt mình vào vai “con” với giảng viên là điều An thấy không cần thiết. “Thầy/cô - em” vẫn là tập quán dễ chấp nhận ở Việt Nam; “tôi - anh/chị”, “tôi - các bạn” hoặc gọi tên trong nhiều môi trường cũng có lý. Quan trọng nhất là quan hệ học thuật: người học được quyền chất vấn lập luận, còn người dạy có quyền đòi hỏi tiêu chuẩn học thuật nghiêm.
Kỷ luật không cần biến học sinh thành “con ngoan”
Nhật, Hàn hay nhiều hệ thống giáo dục khác là ví dụ đơn giản để thấy một chuyện: kỷ luật có thể được mã hóa bằng quy tắc, vai trò, kính ngữ, chuẩn mực tập thể và thói quen, chứ không cần mô phỏng cha mẹ - con cái. Nhưng cũng không nên lôi Nhật, Hàn ra làm tượng thờ, vì các hệ thống đó có vấn đề riêng về áp lực thi cử, thứ bậc và conformism.
Bằng chứng tâm lý học giáo dục hiện đại hợp với một kết luận bớt kịch tính hơn nhưng hữu ích hơn: lớp học tốt cần cả tự chủ lẫn cấu trúc. Giáo viên có thể nói rất rõ “bài này phải nộp thứ Sáu, tiêu chí chấm là A-B-C, trễ sẽ bị trừ điểm”, đồng thời vẫn nói “nếu em không đồng ý với kết luận của thầy, đưa bằng chứng ra, thầy nghe”. Đó là kỷ luật mà không cần làm người học nhỏ đi.
Điều đáng học từ giáo dục miền Nam trước 1975
Nếu phải rút một điều từ tài liệu giáo dục miền Nam trước 1975, An sẽ không chọn câu “ngày xưa xưng em nên hay hơn”. Bằng chứng lịch sử không cho phép kết luận đó. Cái đáng học hơn là tư tưởng xem người học trước hết là một con người cần được phát triển, cùng sự nhấn mạnh vào nhân bản, tinh thần khoa học, khai phóng, khả năng phát biểu tư tưởng và sự đa dạng học liệu.
Ngay trong nghiên cứu về chương trình Việt ngữ, mục tiêu không chỉ là học thuộc văn mẫu mà còn bao gồm khả năng dùng tiếng Việt để phát biểu tư tưởng của bản thân và hiểu tư tưởng người khác. Chỉ riêng điểm đó đã chạm đúng câu chuyện xưng hô: nếu mục tiêu là một con người biết phát biểu tư tưởng, thì quan hệ thầy trò phải chừa chỗ cho người đó thật sự có tư tưởng để phát biểu.
Và cũng phải nói cho công bằng: Luật Giáo dục Việt Nam hiện hành cũng viết rõ về tính chủ động, tư duy sáng tạo, năng lực cá nhân, tôn trọng khác biệt. Thành ra bài toán của hiện tại không thiếu khẩu hiệu đúng. Bài toán là biến những chữ đó thành cách giáo viên hỏi, nghe, phản hồi, chấm điểm và xử lý bất đồng mỗi ngày.
Nếu phải chọn một nguyên tắc xưng hô
Xưng hô nên thể hiện sự tôn trọng mà không tước mất tư cách chủ thể của người học.
Với An, từ tiểu học trở lên, “thầy/cô - em” là một mặc định khá cân bằng: vẫn có vai, có lễ, có khoảng cách cần thiết, nhưng bớt kéo nhà trường vào mô hình cha mẹ - con cái. “Con” không cần bị cấm, nhất là ở trẻ nhỏ hoặc trong quan hệ tình cảm tự nhiên. Cái nên tránh là biến nó thành nghĩa vụ phục tùng.
Một học sinh có thể nói “thưa cô, con nghĩ cô nhầm ở chỗ này” và vẫn đang học trong một lớp rất khai phóng. Một học sinh khác có thể nói “thưa cô, em” cực kỳ chuẩn mà không bao giờ dám đặt câu hỏi. Thành ra đại từ là tín hiệu, không phải số phận.
Câu hỏi quan trọng cuối cùng không phải “con hay em?”. Nó là: **sau khi xưng hô xong, người học có được phép trở thành một con người có tiếng nói hay không?** Nếu câu trả lời là có, cách xưng hô sẽ tự tìm được chỗ hợp lý của nó. Nếu câu trả lời là không, đổi đại từ bao nhiêu lần cũng chỉ là thay cái bảng tên trước cửa.
Nguồn nghiên cứu và mức độ chắc chắn
Nguồn học thuật và văn bản chính
Jack Sidnell & Merav Shohet (2013), The problem of peers in Vietnamese interaction, Journal of the Royal Anthropological Institute, 19(3), 618-638.
DOI: 10.1111/1467-9655.12053
Dùng để phân tích cách từ thân tộc trong tiếng Việt mã hóa tuổi, thế hệ và địa vị.Alexandra Patzak & Xiaorong Zhang (2025), Blending Teacher Autonomy Support and Provision of Structure in the Classroom for Optimal Motivation, Educational Psychology Review, 37, 17.
DOI: 10.1007/s10648-025-09994-2
Meta-analysis 94 nghiên cứu, dùng cho phần autonomy support + structure.Nguyễn Thị Hoàng Mai (2021), nghiên cứu về chương trình giáo dục miền Nam 1955-1975, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Khoa học Xã hội và Nhân văn.
Bài trên VNUHCM Journal
Dùng cho triết lý nhân bản, dân tộc, khai phóng và Đại hội Giáo dục Quốc gia 1958.Nguyễn Thị Ly Kha (2014), Mô hình sách giáo khoa Việt ngữ bậc tiểu học ở miền Nam trước 1975.
Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM
Dùng cho mô hình một chương trình, nhiều bộ sách và đặc điểm tích hợp/giao tiếp.Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967, Điều 10-11.
Bản văn trên Wikisource
Dùng để đối chiếu tự do giáo dục, tự trị đại học và căn bản dân tộc, khoa học, nhân bản.Văn bản hợp nhất Luật Giáo dục số 72/VBHN-VPQH, ngày 25/3/2026.
Cổng văn bản Chính phủ
Dùng cho mục tiêu/phương pháp giáo dục hiện hành về chủ động, tư duy sáng tạo và phát triển năng lực.Thông tư 06/2019/TT-BGDĐT về quy tắc ứng xử trong cơ sở giáo dục.
Bản PDF trên hệ thống Chính phủ
Dùng cho yêu cầu tôn trọng khác biệt, lắng nghe, công bằng và ngôn ngữ chuẩn mực.
Nguồn hồi ức, chỉ dùng để chứng minh sự đa dạng xưng hô
Nguyễn Văn Lục, bài hồi cố về giáo dục VNCH đăng trên Việt Báo.
Bài viết
Nguồn này kể trường hợp học sinh/sinh viên xưng “con” với thầy cô trước 1975. Đây là hồi ức cá nhân, không phải dữ liệu thống kê, nên bài chỉ dùng nó để bác khẳng định tuyệt đối “miền Nam trước 1975 chỉ xưng em”, không dùng để kết luận “đa số đều xưng con”.
Nguồn ảnh
Australian War Memorial, THU/68/0640/VN, Baria High School, 1968.
Trang bộ sưu tập - public domain.Australian War Memorial, GIL/67/1296/VN, Baria High School, 1967.
Trang bộ sưu tập - public domain.
Mức độ chắc chắn
Cao: triết lý giáo dục chính thức, quy định pháp luật, đặc điểm sách giáo khoa, kết quả meta-analysis.
Khá cao: phân tích xã hội-ngôn ngữ rằng từ thân tộc đánh dấu tuổi/thế hệ/địa vị.
Trung bình/thấp: mức độ phổ biến cụ thể của “con”, “em”, “trò” trong từng loại trường miền Nam trước 1975, vì chưa có khảo sát định lượng đại diện được tìm thấy.
Không có bằng chứng trực tiếp: khẳng định một đại từ cụ thể tự nó làm giảm IQ, giảm sáng tạo hoặc thay đổi hoạt động não.
Phan Ni Tấn, Bài Ca Học Trò / bài thơ Kính Thưa Thầy.
Video được chèn trong bài: YouTube
Tư liệu hồi cố về tác phẩm cho biết bài hát đi từ bài thơ “Kính Thưa Thầy” của Phan Ni Tấn và gắn với tâm trạng học sinh, sinh viên miền Nam trước 1975. Bài được dùng ở đây như một ví dụ văn hóa về sự hiện diện của cách xưng “con”, không dùng để suy ra tần suất xưng hô của toàn hệ thống giáo dục.
Giải nghĩa từ ngữ trong bài
- terms of address /tơrmz ờv ờ-đrét/
- Các hình thức dùng để gọi người đối thoại và tự xưng, qua đó thể hiện quan hệ xã hội giữa những người đang nói chuyện.vicách xưng hô
- kinship terms /kin-sịp tơrmz/
- Từ chỉ quan hệ thân tộc như anh, chị, em, cô, chú, con; trong tiếng Việt chúng còn thường được dùng để xưng hô với người không có quan hệ huyết thống.vitừ thân tộc
- fictive kinship /fích-tiv kin-sịp/
- Quan hệ thân tộc mang tính quy ước xã hội giữa những người không phải bà con ruột thịt, nhưng được gọi và đối xử bằng ngôn ngữ gia đình.vithân tộc quy ước
- autonomy support /o-tó-nơ-mi sờ-pọt/
- Cách dạy tôn trọng góc nhìn và năng lực tự quyết của người học, cho lựa chọn hợp lý, giải thích lý do và khuyến khích chủ động thay vì chỉ ép tuân thủ.vihỗ trợ tính tự chủ
- structure /strắc-chờ/
- Trong tâm lý học giáo dục, structure là việc giáo viên làm rõ kỳ vọng, quy tắc, hướng dẫn, mục tiêu và phản hồi để người học biết cần làm gì và vì sao.vicấu trúc hỗ trợ
- student agency /stu-đần ây-jần-xi/
- Khả năng và vị thế để người học chủ động đặt câu hỏi, lựa chọn, hành động, chịu trách nhiệm và có tiếng nói trong quá trình học.vinăng lực chủ thể của người học
- infantilization /in-fan-tờ-lờ-zây-shần/
- Cách đối xử với thanh thiếu niên hoặc người trưởng thành như thể họ vẫn là trẻ nhỏ, làm giảm vị thế tự quyết và trách nhiệm tương xứng với độ tuổi.vitrẻ con hóa
Bình luận